Nhưng nếu anh héo tàn và chết, như hoa hồng không thể sống ngàn năm, Em sẽ tìm đến chỗ anh nằm Và quỳ xuống đọc lời cầu nguyện. nhưng hãy quay về khi nắng…
I. Tôi khá là low tech. Tôi không biết dùng instagram. Mà thôi, đến word còn cái gì cũng phải hỏi cơ mà. Nói thật là tôi chả bao giờ có ý định lập một tài khoản trên twitter cả, thấy cách dùng Twitter nó cứ phức tạp làm sao ấy, cho nên mặc dù có kha khá người tôi thích cũng ở trên twitter, nhưng thôi, mặc kệ họ. Gì chứ bắt tôi lặn lội lên tận twitter để follow thì cho tôi xin. Twitter với tôi cũng rắc rối và trừu tượng như là chứng minh cái bổ đề của Ngô Bảo Châu vậy.
Thế nào mà tôi lại lập tài khoản twitter chỉ để follow Haruki Murakami. (Chắc cái tài khoản ấy phải là đồ thật chứ nhỉ?). Mà gì đâu, mới đọc Kafka bên bờ biển là 1. Và bây giờ thêm quyển này là 2. Xứ sở kỳ diệu tàn bạo & Chốn tận cùng thế giới. Trong cả rổ sách của Haruki, tôichọn nó. Lí do thì nhiều: nào là nhiều người khuyên thế, nào là chủ nghĩa hậu hiện đại (post-modernism), nào là nội dung có tinh thần liên hệ chặt chẽ với Kafka bên bờ biển, nào là không dài lắm, nào là… đủ thứ. Nhưng lí do cơ bản nhất là: tôi chọn nó vì tôi đã chọn nó. Đôi khi chúng ta làm một việc gì đó chỉ bởi vì nếu chúng ta không làm việc đó, thì chúng ta đã không thể ngồi đây mà hỏi tại sao chúng ta lại làm việc đó. Nghe hơi hại não nhỉ. Nhưng cũng đúng mà.
Thế là đấy, một ngày bầu trời trong sáng, trong một con ngõ bình thường khá là yên tĩnh, trên một gác hai của một căn nhà 4 tầng đang trong quá trình sửa chữa nên luộm thuộm vô cùng, cạnh cái cửa sổ lấm tấm bụi nhưng tràn đấy ánh sáng, bạn có thể tưởng tượng ra tôi, ngồi bó gối đọc sách. Không có trà, không có cafe, không có bánh bích quy, không có nhạc nền là những điệu Waltz buồn của Chopin, tức là không có gì giống như những tưởng tượng nên thơ về khung cảnh một người đang đọc sách vẫn thường xuất hiện trên phim hay trong truyện. Chỉ có tôi và cuốn tiểu thuyết 600 trang của Murakami mà thôi.
Lẽ ra tôi có thể ra ngoài. Nhưng mà tôi lại ở nhà để đọc hết cuốn tiểu thuyết này. Chắc là đã bỏ lỡ thời tiết đẹp.
II. Tôi đã bắt đầu quen với Murakami: nồi lẩu thập cẩm của văn hóa, triết học, hiện thực, siêu hình, cuồng tưởng, bình thường, điên, buồn cười, buồn khóc, hồi hộp, hẫng, ám ảnh, ăn, đi ngủ, và tất nhiên, nhị nguyên. Giống như Kafka bên bờ biển, Xứ sở kỳ diệu tàn bạo & Chốn tận cùng thế giới được kể theo lối tư duy nhị nguyên, tức là hai nhân vật song song kể hai câu chuyện, họ đan xen, phản chiếu, ban đầu thì rời rạc, về sau thì không thể tách rời. Được cái là dễ diễn dịch hơn so với Kafka.
Xử sở có hai câu chuyện chính:
- Câu chuyện thứ nhất: một ông toán sư (nôm na là người mã hóa thông tin) 35 tuổi, li hôn, cô độc phiêu lưu xuống một thế giới ngầm ngay dưới lòng Tokyo, chỉ để phát hiện ra bộ não của mình đã được gài một bảng mạch mà chả bao lâu nữa nó sẽ đóng lại, khiến cho ông mất toàn bộ ý thức và rơi vào một nơi chốn mang tên “tận cùng thế giới” - thật ra chính là thế giới tâm thức của riêng ông.
- Câu chuyện thứ hai: một cái tôi khác hoàn toàn rỗng không của ông toán sư đang sống nơi “tận cùng thế giới”. Cái bóng của ông được tách ra. Khi cái bóng chết, tâm hồn của ông cũng sẽ chết theo. Trong khi cái bóng còn sống và tâm hồn của ông vẫn còn tồn tại, ông làm công việc là một người đọc “những giấc mơ xưa” trên đầu lâu những con thú một sừng. Ông muốn giải cứu cái bóng để trốn khỏi nơi này, để trở về với thế giới bên ngoài tường thành vây bọc, để tìm lại những ký ức mà ông đã lãng quên.
Với những người chưa đọc tác phẩm, bạn hãy tạm mường tượng nó như một phiên bản đi trước của tác phẩm điện ảnh Inception của Christopher Nolan. Cài một con chíp trong não, rồi rơi vào một miền sâu xa của ý thức, lạc lối trong đó, có nguy cơ không thoát ra được và bị vĩnh viễn nhốt lại giữa những ảo ảnh. Tựa như nhân vật Dom Cobb chiến đấu để không rơi vào trạng thái Limbo, một khoảng không tiềm thức nguyên thủy vô hạn định, nhân vật toán sư của Haruki Murakami cũng đối mặt với cái gọi là nơi “tận cùng thế giới”, giấc mơ viễn tưởng được sáng tạo trong chính đầu óc của ông ta, nơi tâm hồn cô độc và sứt sẹo của ông ta sẽ chết, chỉ còn lại một thân xác sống không biết tới hạnh phúc hay khổ đau.
Một ngọn đao cắt rời nhân vật tôi và cái Bóng của nhân vật tôi. Ý tưởng nhìn thân xác và tâm hồn như hai thực thể độc lập không phải đến Haruki mới có. Motif về việc mất Bóng cũng không phải là xa lạ trong văn học. Nhân vật Peter Schlemihl trong tác phẩm”Truyện kỳ ảo của Peter Schlemihl” (Peter Schlemhl’s miraculous story) của nhà văn Đức Adelbert von Chamisso chỉ vì mấy đồng tiền vàng (mà cuối cùng thật ra là một chiếc ví rỗng) đã bán cái Bóng của mình cho Quỷ dữ. Từ lâu, cái Bóng là đại diện cho bản nguyên của con người, một cái gì đó phân biệt chúng ta với hàng tỉ người khác, nó minh chứng rằng sự hiện hữu của chúng ta là có Thật. Nhưng nếu như sau khi gấp lại cuốn sách của Chamisso, tôi cảm thấy trọn vẹn như ăn một cái bánh ngon, thì sau khi gấp lại cuốn sách của Murakami, tôi cứ thấy đau đau thế nào, giống như ăn phải một cái bánh có chứa có một cây đinh bên trong, loay hoay không biết làm sao để không phải nuốt cây đinh ấy mà bao tử vẫn tiêu hóa được nó.
Có lẽ là bởi bi kịch mất đi cái Bóng của nhân vật Peter Schlemihl đến từ chút ít lòng tham lam của cải. Còn bi kịch mất đi cái bóng của nhân vật toán sư lại đến từ sự cô đơn của con người hiện đại và sự bất an ngay giữa lòng những thành phố hoa lệ nhất. Điều đó chẳng phải đáng buồn lắm sao? Khi con người cô đơn đến mức muốn vứt bỏ chính mình để có thể an yên, khi con người muốn đào thoát khỏi cái thế giới mà ngày ngày chỉ có người ta lên tàu điện ngầm để đi làm, một đơn vị vũ trang của Israel triệt hạ một làng ở Trung Đông, bộ trưởng tài chính Peru phê phán Mỹ can thiệp vào nền kinh tế Peru, và bên A Rập vẫn đang khai thác dầu mỏ. Đọc tới đoạn nhân vật toán sư xem một tờ báo trong 24h cuối cùng của đời minh, nhận thấy chúng chẳng nói ra điều gì đáng để một kẻ sắp lâm chung ghi nhớ, tôi bất giác lẩm nhẩm lại lời bài hát A day in the life của The Beatles:
I read the news today oh boy, about a lucky man who made the grade. And though the news was rather sad, well I just had to laugh.
(Tạm dịch: Tôi đọc tin tức hôm nay, về một gã may mắn trở nên thành đạt. Và mặc dù tin tức khá buồn, ừ thì tôi vẫn phải bật cười.)
Nhưng rồi thì sao, mặc kệ thế giới biến thiên, những ngày tháng vẫn sẽ trôi qua nhạt nhòa như thế này:
Woke up, fell out of bed Dragged a comb across my head Found my way downstairs and drank a cup And looking up I noticed I was late Found my coat and grabbed my hat Made the bus in seconds flat Found my way upstairs and had a smoke And somebody spoke and I went into a dream.
Tỉnh dây, chui ra khỏi giường, lấy lược chải đầu, xuống nhà, uống một li nước, nhận ra mình đã muộn, kiếm áo khoác, vớ chiếc mũ, bắt kịp chuyến xe, lên xe, hút một điếu thuốc, người xung quanh trò chuyện, tôi chìm vào giấc mơ.
Cuộc đời tôi cũng thế. Sau hơn 15 năm kể từ cái ngày học tiểu học giáo viên tiếng Anh bắt tôi mô tả hoạt động trong một ngày, đến bây giờ bài viết đó vẫn còn đúng, có chăng thay vì đi học thì đi làm, có chăng thay vì làm bài tập về nhà là lướt mạng, có chăng thời gian chơi đã nhiều hơn thời gian học, có chăng là thêm vài tiểu tiết, có chăng là 20 năm sau nhìn lại thấy nó vẫn chẳng có gì khác đi. Cuộc đời bạn không phải cũng thế sao?
Có gì đâu, ta đành chấp nhận đó là nỗi buồn tuần hoàn của cuộc đời này. Chúng cứ xoay mãi không thôi như một con quay vĩnh cửu, chỉ dừng lại cho đến khi chúng ta lìa đời.
Đoạn mà tôi thích nhất trong cả cuốn tiểu thuyết kỳ ảo này là nhân vật toán sư trong 24h cuối đời trước khi tâm hồn ông bị diệt vong. Hình như chỉ trong 24h đấy, những trải nghiệm về mặt tâm thức của ông nhiều bằng cả cuộc đời gộp lại.
Không phải ngẫu nhiên mà người ta hay dạy đời nhau rằng: hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng để sống. Có lẽ chỉ khi sự hữu hạn của thời gian trở nên hiển hiện, chúng ta mới vội thức tỉnh và thấu thị được cái gì đang diễn ra trong cuộc đời. Một sự muộn màng kịp lúc. Giống như sinh viên vẫn hay đùa nhau rằng, nếu thầy cho em một tuần để nộp bài, em sẽ bắt đầu làm vào ngày thứ 6, còn nếu thầy có cho em 60 năm nữa để nộp bài, thì cũng đến ngày thứ 365 của năm thứ 59 em mới bắt đầu làm.
Nhân vật toán sư đã muốn làm một điều gì thật đáng nhớ, nhưng sau rốt, ông cũng chỉ đi loanh quanh ăn một cái bánh kẹp trứng giăm bông, đọc một vài tờ báo, đem quần áo ra tiệm giặt là, thuê một chiếc ô tô, rủ một cô gái đi ăn, trò chuyện những câu chuyện vừa chân thực vừa quái dị với cô, ngủ với cô, đến một tiệm băng đĩa, mua một cái bấm móng tay, ngồi trong công viên nghĩ vẩn vơ, đốt hết đống thẻ tín dụng, nghe Bob Dylan.
Đặc biệt? Không có gì đặc biệt. Vẫn là cái tuần tự như thế. Nhưng trên chuyến hành trình rất tầm thường đó, lần đầu tiên trong đời, vị toán sư lại nhìn ra một con ốc sên, ông lại nhìn ra một khóm cây cảnh, lại nhận ra Bob Dylan hát như một đứa trẻ đứng bên cửa sổ xem mưa, lại nhận ra mình yêu một phụ nữ chứ không phải chỉ là ước ao dục tính. Toàn những chuyện vặt vãnh chẳng đâu vào đâu. Nhưng nó khiến người ta nhận ra rằng người ta yêu cuộc sống. Có những thứ nhỏ xinh tươi đẹp vẫn hiện diện trong bức tranh tẻ nhạt của cuộc đời này. Nhưng ta chẳng buồn để ý.
Sự biến mất của nhân vật toán sư có lẽ cũng chỉ như gạt đi bọt biển. Bụp! Thế là hết! Chẳng để lại dấu tích gì. “There is nothing for me hear, so I will disappear.”. John Lennon đã viết ra câu hát đó: “Chẳng có gì cho tôi ở đây, vậy nên tôi biến mất.”.
Lại phải nhắc lại rằng tôi thích cái trường đoạn 24h cuối cùng trong đời ông toán sư biết mấy. Bởi vì đôi khi tôi vẫn nghĩ về điều đó, dù khác ông toán sư, tôi nghĩ đến cái kết của thế giới nhiều hơn cái kết của chính mình. Giống như tưởng tượng mình là nhân vật chính trong một bộ phim về tận thế ấy. Tôi vẫn thấy xe cộ nối đuôi nhau. Siêu thị, chợ búa vẫn vang tiếng người, mùi thịt cá xông lên mũi. Thanh niên bấm smart phone. Người già tập thể dục. Trẻ em đến lớp học hát. Và ngoài kia chim vẫn hót véo von. Thế giới quá sống động để tàn lụi. Nhưng nếu ngày mai chúng tàn lụi thì sao? Một buổi chiều dài, lắng nghe thành phố hối hả, mở folder nhạc của Ngũ Nguyệt Thiên trong điện thoại, chọn bài Con Thuyền của Noah, A Tín hát:
Chúng ta vẫn phải nói lời từ biệt, vẫn phải từ bỏ thế giới dưới mặt đại dương. Bạn sẽ cất những kỷ niệm nào để cho vào hàng lí mang theo?
Được rồi. Cuộc sống này thì có gì vui thú? Cười giễu sự phù phiếm đã đủ. Nhưng rốt cuộc, nhân vật của Murakami vẫn muốn sống. Tôi vẫn nhớ ai đó nói với tôi rằng: những kẻ muốn tự tử là những kẻ muốn sống đến mức phải tìm đến cái chết. Tôi không tin. Muốn sống là muốn sống. Muốn chết là muốn chết. Chẳng có ẩn dụ lắt léo nào.
Nhưng chắc là tôi đã sai. Hãy nhìn vị toán sư trong Xứ sở, ông ta đã tìm ra lối trở về thế giới bên ngoài, song ông ta lại chọn ở lại nơi tận cùng thế giới. Không phải vì sự hoàn hảo của nơi tận cùng thế giới níu kéo ông ta, vì chỉ vì đó là trách nhiệm của người đã sáng tạo ra vùng đất trong vây thành. Tôi nghĩ giờ thì ông ta đã nhớ ra tình yêu là gì.
Thế giới xấu xí. Thế giới phiền muộn. Thế giới đau thương. Thế giới rỏ máu. Sao không có ai dạy những kẻ tuyệt vọng trên thế giới này rằng: ngay cả sự dở dang cũng là một điều đẹp đẽ? Ngay cả sự không hoàn hảo tự thân nó cũng đã là một sự hoàn hảo?
Tôi không ngờ bài viết lại dài đến thế. Vì lúc đọc sách, tôi thực sự không nghĩ nhiều tới vậy. Chỉ có một suy nghĩ mà thôi, đấy là, tối nay tôi sẽ thử nằm nghe A hard rain’s a gonna-fall của Bob Dylan cho đến khi chìm vào giấc ngủ. Ai mà biết được, có thể một mai chúng ta sẽ ngủ mãi và không tỉnh dậy nữa? Và nếu có phải đi đến tận cùng thế giới, được nghe một bản nhạc tiễn biệt từ Bob Dylan cũng không phải một ý tồi.