Cây chạc chìu (Tetracera scandens) còn có các tên gọi khác là: Dây chiều, dây tứ giác, tích diệp đằng, dạt lồng nhây, chong co... Đây là loài dây trườn (leo), dài từ 3-5m hoặc hơn, thân màu nâu với cành mềm dài, có lông nhám. Lá cây chặc chìu mọc so le, nháp hình bầu dục, mép khía răng, phiến lá hẹp về phía cuống. Mùa hoa chạc chìu nở thường vào tháng 6.
Cây chặc chìu xuất hiện nhiều ở các rừng thứ sinh, các đồi ven rừng, ven suối hoặc đồi cây bụi khắp Việt Nam. Phần rễ và thân dây có thể dùng làm thuốc. Cây có chứa Isorhamnetin, Azaleatin, Rhamnetin, Rhamnocitrin, vị chua chát, tình bình có tác dụng hoạt huyết tán ứ.
Mặt dưới của lá cây chạc chìu hơi nháp nên người ta còn dùng để đánh bóng những đồ vật như: gỗ, thiếc, sắt...; trong khi đó thân dây leo thì dùng làm chạc vì độ dẻo dai. Ngoài ra, loại cây này cũng được dùng làm thuốc bằng cách cắt về, thái mỏng, phơi khô hoặc sao vàng rồi sắc làm nước uống.
Tác dụng của cây chạc chìu đã được nhắc đến trong Đông Y với các đặc tính nổi bật sau:
Theo kinh nghiệm dân gian, cây chạc chìu có thể kết hợp với một số vị thuốc khác để dùng trong những trường hợp như:
Ngoài những công dụng trên thì ở miền núi phía Bắc một số nơi còn dùng rễ chạc chìu sắc uống để chữa kiết lỵ, đau bụng, lở loét mủ vàng, đi ngoài ra máu. Ngoài ra một số người còn phối hợp với rễ cây Ngộ độc để chữa tắc kinh; dịch của cây dùng để chữa đau mắt và rắn cắn.
Nhìn chung, để đảm bảo an toàn và hiệu quả khi sử dụng cây chạc chìu, người bệnh cần trao đổi với thầy thuốc để được hướng dẫn cách sử dụng và liều dùng phù hợp.
Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.
Link nội dung: https://hnou.edu.vn/chiu-a9211.html